Vì sao nhà khoa học vô thần Stephen Hawking là nhà hàn lâm Viện Giáo hoàng Khoa học

Chủ nhật - 04/12/2016 09:24
Chuyến viếng thăm Vatican tuần này của khoa học gia Stephen Hawking đã gợi hiếu kỳ, một vài người hỏi vì sao nhà vật lý thiên văn nổi tiếng thế giới và tự cho mình là người vô thần lại ở trọng tâm của Giáo hội công giáo.
Vì sao nhà khoa học vô thần Stephen Hawking là nhà hàn lâm Viện Giáo hoàng Khoa học
Vì sao nhà khoa học vô thần Stephen Hawking là nhà hàn lâm Viện Giáo hoàng Khoa học
Nhưng đối với Vatican, chuyến viếng thăm này không có gì là khác thường, Stephen Hawking là thành viên của Viện Giáo hoàng Khoa học, Viện có 80 nhà khoa học tài danh nhất thế giới và ông ở Vatican trong buổi họp thường niên của Viện.
 
Năm nay, buổi hội thảo có đề tài «Khoa học và phát triển bền lâu». Giáo sư Stephen Hawking đọc bài diễn văn về «Nguốn gốc vũ trụ», đề tài đã làm cho ông nổi tiếng thế giới.
 
Lòng tin tôn giáo – công giáo hay không công giáo – không phải là một tiêu chuẩn để được nhận vào Viện Giáo hoàng Khoa học. Ông Werner Arber, giám đốc của nhóm, cựu Giải Nobel về y khoa là người theo đạo tin lành. Các thành viên khác của Viện là người công giáo, vô thần, tin lành và thuộc các tôn giáo khác.
 
Đường lối của Viện phóng khoáng vì Viện được xem là nơi mà khoa học và đức tin có thể gặp nhau và thảo luận với nhau. Đây không phải là diễn đàn tôn giáo, nhưng là nơi cởi mở thảo luận và nghiên cứu các phát triển khoa học cho tương lai.
 
Viện được Hoàng tử Federico Cesi thành lập năm 1603, được Giáo hoàng Clément VII ban phép lành và Viện trưởng đầu tiên là Galileo Galilei. Khi Hoàng tử Cési qua đời thì Viện bị đóng cửa. Đức Giáo hoàng Piô IX đã xây dựng lại năm 1847, nhưng sau đó Viện thuộc Quốc gia Ý sau sự sụp đổ của Nhà nước giáo hoàng. Năm 1936, Đức Giáo hoàng Piô XI lại tái lập lại và Viện mang tên từ đó cho đến nay, một đạo luật được Đức Giáo hoàng Phaolo VI cập nhật năm 1976 và Thánh Giáo hoàng Gioan-Phaolô II cập nhật thêm một lần nữa năm1986.
 
Qua nhiều năm, trong danh sách các thành viên của Viện có nhiều người được giải Nobel, một vài người được Giải khi họ là thành viên của Viện, có nhiều người được giải sau khi vào Viện.
 
Các thành viên của Viện đã được giải Nobel là Niel Bohr, Rita Levi Montalcini, Werner Heisenberg, Alexander Fleming và Carlo Rubbia.
 
Theo Tổng Giám mục Marcelo Sanchez Sorondo, giai đoạn của những năm 1930 là «thích thú nhất của Viện».
 
Trong giai đoạn này, Max Planck được Giải Nobel Vật lý năm 1918, ông khởi xướng các nghiên cứu về vật lý lượng tử. Chính ông Max Planck là người đã cảnh báo cho Đức Giáo hoàng Piô XII về các hiểm họa của một cuộc chiến tranh hạt nhân.
 
Các lời cảnh báo của Planck đã cảm hứng cho các giáo huấn của Đức Giáo hoàng Piô  XII. Phát biểu trước trước Viện Giáo hoàng Khoa học ngày 30 tháng 11 năm 1941, Đức Giáo hoàng đã tuyên bố, «chiến tranh làm xâu xé thế giới, nó dùng tất cả các nguồn lực kỹ thuật để tiêu hủy». Ngài ghi nhận, khoa học có thể là con dao hai lưỡi trong bàn tay con người, có thể vừa chữa lành vừa giết hại. Ngài nói đến «sự phiêu lưu kinh khủng của các nhà khoa học trong việc nghiên cứu năng lượng hạt nhân và các chuyển đổi hạt nhân».
 
Trong bài diễn văn ngày 21 tháng 2-1943, Đức Giáo hoàng Piô XI đã kêu gọi các nguyên thủ Quốc gia: «Dù chúng ta chưa nghĩ đến lợi ích kỹ thuật trong quá trình hạt nhân giông bão này, cũng một tiến trình này lót đường cho một loạt cơ hội, với khả năng có thể xây dựng một nhà máy uranium, thì điều này không thể được xem chỉ là chuyện không tưởng».
 
Đức Giáo hoàng nói thêm, «điều quan trọng không phải là làm ngưng tiến trình này nhưng là ngưng tiến trình với các phương tiện hóa học thích đáng», vì «nếu không, một tai ương cực kỳ kinh khủng sẽ xảy ra, không những chỉ ở nơi đó mà còn trên cả hành tinh».
 
Các buổi họp của Viện còn bàn thảo đến các kỹ thuật tinh vi của khoa học. Chẳng hạn Viện đã thảo luận nhiều lần về «Higgs boson». Các hạt cơ bản được khám phá năm 2015, nhưng các nhà khoa học của Trung tâm Nghiên cứu Hạt nhân Âu châu (CERN) ở Geneva đã dự đoán sẽ được xảy ra từ cuộc họp năm 2011 về vật lý nguyên tử diễn ra ở Casina Pio IV, trụ sở của Viện.
 
Trong một nghĩa nào đó, Viện là cầu nối giữa khoa học, đức tin và thế giới. Viện chứng tỏ kiến thức khoa học không loại bỏ sự hiện diện của Thiên Chúa.
 
Đức Tổng Giám mục Marcelo Sanchez Sorondo cũng kể lại, ngài có hỏi giáo sư Stephen Hawking làm thế nào ông khẳng định Thiên Chúa không tồn tại, ông có được kết luận này theo nhà khoa học hay theo kinh nghiệm sống của ông. Và giáo sư Hawking cho biết, lời khẳng định của ông không dính gì đến khoa học.
 
Đó là một trong nhiều giai thoại của Viện, chứng tỏ Vatican không phải là kẻ thù của khoa học nhưng là nơi tranh luận về sự tiến bộ của khoa học từ lâu đã được khuyến khích và thúc đẩy một cách tích cực.
 
Trong buổi diễn thuyết của mình ở Casina Pio IV, giáo sư Stephen Hawking đã vinh danh Linh mục George Lemaitre, chủ tịch Viện Giáo hoàng Khoa học từ năm 1960 đến 1966. Giáo sư Hawking tuyên bố Linh mục Lemaitre là cha đẻ của «lý thuyết Big Bang», như thế là bác bỏ nguồn tin cho rằng cha đẻ của thuyết này là nhà vật lý Mỹ  George Gamow.
 
Giáo sư Hawking tuyên bố: «Georges Lemaitre là người đầu tiên đề nghị mô hình theo đó vũ trụ có một khởi đầu rất dày đặc. Theo giáo sư, George Gamow không phải là cha đẻ của Big Bang».
 
Vì thế không có gì là ngạc nhiên khi giáo sư Hawking tham dự một buổi thảo luận vào ngày 2 tháng 12 nhân dịp kỷ niệm 50 năm ngày Linh mục Lemaitre qua đời. Sự kiện sẽ được tổ chức ở Viện Khoa học nước Bỉ tại Ý và Hồng y Gerhard Ludwig Mueller, bộ trưởng bộ Giáo lý Đức tin sẽ kết thúc buổi hội thảo.
 
Giuse Nguyễn Tùng Lâm chuyển dịch, phanxico
catholicnewsagency.com, Andrea Gagliarducci

Tổng số điểm của bài viết là: 10 trong 2 đánh giá

Xếp hạng: 5 - 2 phiếu bầu
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 
Tin xem nhiều
Tin Mới
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây